Trình bày báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng cho biết, bước vào năm 2018, tình hình kinh tế thế giới có nhiều tín hiệu khởi sắc, dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu cao hơn năm 2017, thương mại tích cực tạo thuận lợi cho kinh tế trong nước phát triển.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội sáng nay (22/10).

 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội sáng nay (22/10).

Sáng nay (22/10), tại Phiên Khai mạc Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019.

Thủ tướng nhắc lại, ngay khi bước vào năm kế hoạch 2018, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc nhằm tổng kết những kết quả đạt được trong năm 2017 và triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Hội nghị trở thành một sự kiện đặc biệt từ trước tới nay với sự tham dự của các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội.

Trình bày báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng cho biết, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, phấn đấu đạt mức cao đối với một số chỉ tiêu quan trọng.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, quan điểm xuyên suốt "tăng cường kỷ luật kỷ cương; xây dựng hệ thống hành chính liêm chính, hành động, phục vụ; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi". Chính phủ kiên định mục tiêu đề ra từ đầu nhiệm kỳ là ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Báo cáo đánh giá, bước vào năm 2018, tình hình kinh tế thế giới có nhiều tín hiệu khởi sắc, dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu cao hơn năm 2017, thương mại tích cực tạo thuận lợi cho kinh tế trong nước phát triển.

Trong đó, Chính phủ điều hành hiệu quả công tác quản lý giá, thực hiện thành công mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vượt mục tiêu Quốc hội giao. Ước cả năm, CPI bình quân tăng dưới 4% so với bình quân cùng kỳ.

Thị trường tiền tệ, hoạt động ngân hàng diễn biến phù hợp với định hướng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Các chỉ số tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng ở mức vừa phải, cơ bản phù hợp với diễn biến thực tế và sát với định hướng đề ra từ đầu năm. Ước cả năm, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16%, tín dụng tăng khoảng 17%. Mặt bằng lãi suất ổn định, lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên giảm. Tỷ giá, thị trường vàng, ngoại hối ổn định.

Thị trường chứng khoán cơ bản ổn định, trong ngắn hạn, diễn biến thị trường nhiều khả năng tiếp tục đan xen giữa các phiên tăng/giảm, cùng chiều với thị trường chứng khoán thế giới, tuy nhiên khó có khả năng tiếp tục giảm sâu. Qua các phiên điều chỉnh, giá trị thị trường tiến sát hơn giá trị thực, tiệm cận mặt bằng chung với thị trường các nước trong khu vực, cùng với sự hỗ trợ bởi các yếu tố vĩ mô là yếu tố tích cực giúp thị trường phát triển ổn định, bền vững hơn.

Đáng lưu ý, báo cáo của Chính phủ cho biết, thị trường bất động sản chưa có dấu hiệu bất thường, cực đoan lớn. Giá cả ổn định; thanh khoản ở mức khá, tồn kho giảm mạnh; cơ cấu hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú, hướng tới nhu cầu và khả năng thanh toán thực chất của người dân.

Riêng các khu vực vùng ven TPHCM, huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai và đặc biệt là các địa bàn dự kiến thành lập đặc khu kinh tế (Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh; Phú Quốc tỉnh Kiên Giang và Bắc Vân Phong tỉnh Khánh Hòa) xuất hiện tình trạng sốt cục bộ đất nền, giá tăng cao bất thường, nhưng đã dần ổn định trở lại và bước đầu được kiểm soát sau khi các cơ quan Trung ương và các địa phương tổ chức kiểm tra, nắm bắt tình hình, làm rõ nguyên nhân biến động và thực thi một số biện pháp phù hợp.

Cùng với đó, các cân đối lớn về kinh tế cơ bản được đảm bảo, mức độ cải thiện tích cực hơn trước. Bội chi ngân sách nhà nước cả năm ước đạt khoảng 3,67% GDP (mục tiêu Quốc hội giao là 3,7%). Dự kiến đến cuối năm 2018, dư nợ công khoảng 61,4% GDP, nợ Chính phủ khoảng 52,1% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia là 49,7% GDP. Nợ Chính phủ trong nước tiếp tục được cải thiện so với cuối năm 2017 theo hướng bền vững thông qua kéo dài kỳ hạn, giảm lãi suất bình quân.

Thu ngân sách cả nước ước vượt 3% dự toán, trong đó tỷ trọng thu từ xuất nhập khẩu, dầu thô giảm, thu nội địa tăng (gần 82% tổng thu). Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước cả năm đạt 34% GDP, trong đó tỷ trọng đầu tư ngoài nhà nước giảm, đầu tư tư nhân tăng đạt 42,4%. Giải ngân vốn đầu tư nước ngoài FDI khoảng 18 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Ngoài ra, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh đạt được nhiều kết quả rõ nét nhờ những nỗ lực về cải cách thể chế, cải cách hành chính của Chính phủ. Với bối cảnh vĩ mô ổn định, tình hình kinh tế - xã hội lạc quan, cả năm ước có khoảng 130 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 2,5% so với năm 2017.

Tăng trưởng GDP duy trì đà tăng khá, mặc dù năm 2017 đã đạt mức tăng ấn tượng, ước cả năm GDP tăng khoảng 6,7%, đạt mục tiêu của Nghị quyết số 01/NQ-CP và đạt mức cao mục tiêu Quốc hội giao.

Quy mô GDP theo giá hiện hành cả năm ước đạt khoảng 5.555 nghìn tỷ đồng, tăng gần 550 nghìn tỷ đồng so với năm 2017; quy mô GDP quy USD đạt khoảng 240,5 tỷ USD, tăng 16,8 tỷ USD (khoảng 7,5%), GDP bình quân đầu người đạt khoảng 2.540 USD/người, tăng khoảng 6,4%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Chính phủ thừa nhận, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 vẫn còn không ít tồn tại, hạn chế. Trên thế giới, sự nổi lên mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra những tác động ngày càng rõ nét tới các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Đồng thời, những tác động mặt trái của cơ chế thị trường, của quá trình toàn cầu hóa, mạng internet, mạng xã hội,... đã làm nảy sinh thêm nhiều khó khăn, thách thức, cạnh tranh giữa các nền kinh tế trên thế giới, giữa các quốc gia trong khu vực, giữa các doanh nghiệp trong thị trường,... trở nên căng thẳng hơn; những biến đổi về văn hoá, xã hội và môi trường diễn ra nhanh và phức tạp hơn, trong đó không ít những tác động tiêu cực.

Sức ép lạm phát còn lớn do tác động của nhiều yếu tố, nhất là biến động tỷ giá, lãi suất, xu hướng tăng giá dầu thô trên thị trường quốc tế và yêu cầu thực hiện lộ trình giá thị trường đối với điện, dịch vụ giáo dục, y tế,... Tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế từng bước được nâng lên nhưng chưa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới, khả năng chống chịu trước những biến động bên ngoài còn hạn chế. Năng suất lao động, năng lực cạnh tranh trong nhiều ngành, lĩnh vực thấp.

Bình luận